CHÚC MỪNG NĂM MỚI !

Chào mừng quý vị đến với Website của Phan Thi Thu Huong.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

CHIỀU TỐI

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thu Huong
Ngày gửi: 12h:07' 22-02-2018
Dung lượng: 15.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
CHIỀU TỐI
Tiết 87
Văn bản:
(Hồ Chí Minh)
GV soạn giảng: Phan Thu Hường
CHIỀU TỐI
Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
Giáo viên: Phan Thu Hương
CHIỀU TỐI
THẢO LUẬN NHÓM
- Nhóm 1: Giới thiệu về tập thơ Nhật kí trong tù và bài thơ chiều tối.
- Nhóm 2: Đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác.
- Nhóm 3: Tìm hiểu 2 câu thơ đầu.
- Nhóm 4: Tìm hiểu 2 câu thơ cuối.
THẢO LUẬN NHÓM
NHÓM 1
Giới thiệu về tập thơ Nhật kí trong tù và bài thơ chiều tối.
- Hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác trong lúc bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây, Trung Quốc từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943.
- Thể loại:
Nhật ký bằng thơ.
- Văn tự:
Chữ Hán.
- Số lượng:
134 bài.
- Nội dung:
+ Bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh.
+ Tố cáo chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch.
- Nghệ thuật:
Kết hợp hài hòa giữa cổ điển - hiện đại.
1.Tập thơ Nhật kí trong tù
I. ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
Sơ đồ các nhà lao Bác bị giải qua
từ 8/1942 đến 9/1943 tại Quảng Tây-Trung Quốc
Bìa tập thơ Nhật Kí trong tù của một số nhà xuất bản
Bút tích trang đầu và trang cuối tập “Ngục trung nhật kí”
Một trang trong tập thơ Nhật Kí trong tù của Bác Hồ, bản tiếng Thái, in tại Thái Lan
- Hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942 trên đường Bác bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào buổi chiều tối.
- Thể thơ và bố cục:
+ Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt.
+ Bố cục: Có thể chia hai đoạn.
- Vị trí: Là bài thơ thứ 31 tập Nhật ký trong tù.
2. Văn bản
Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
I. ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
THẢO LUẬN NHÓM
NHÓM 2
Đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác.

倦 鳥 歸 林 尋 宿 樹
孤 雲 慢 慢 度 天 空
山 村 少 女 磨 包 粟
包 粟 磨 完 爐 已 烘
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

Mộ
Chiều tối
* Đối chiếu bản dịch thơ và nguyên tác:
Phiên âm
Dịch thơ
Chiều tối
Dịch nghĩa

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ, 
Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không; 
Thiếu nữ xóm núi xay ngô, 
Ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ.
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, 
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không; 
Cô em xóm núi xay ngô tối, 
Xay hết, lò than đã rực hồng.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
-Hồ Chí Minh-
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
- Nam Trân (dịch)-
- Câu 1: Dịch sát nghĩa.
- Câu 2: Không dịch được chữ “cô” trong từ “cô vân mạn mạn”, dịch “trôi nhẹ” chưa đúng.
- Câu 3: + “Thiếu nữ” dịch “cô em” không hợp với cách nói của Bác.
+ Thừa chữ “tối”.
- Câu 4: Tương đối đúng ý.  
* Đối chiếu bản dịch thơ và nguyên tác:
THẢO LUẬN NHÓM
NHÓM 3
Tìm hiểu 2 câu thơ đầu
1. Bức tranh thiên nhiên
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, 
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
-> Cánh chim mỏi đang bay về tổ ấm, chòm mây cô đơn, lẻ loi chầm chậm trôi qua lưng trời
Khung cảnh thiên nhiên được chấm phá theo bút pháp cổ điển gợi cảnh núi rừng lúc chiều tối âm u, vắng vẻ quạnh hiu
Quyển điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Trong thơ ca cổ điển: Cánh chim bay về tổ biểu tượng cho buổi chiều tà “Chim bay về núi, tối rồi”( Ca dao); “Chim hôm thoi thóp bay về rừng” (Truyện Kiều)
Trong bài thơ: cánh chim mỏi được cảm nhận từ quan sát bên ngoài đến trạng thái bên trong suốt ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim đã mỏi, bay về tổ ấm nghỉ ngơi cũng như Bác mỏi mệt sau một ngày lê bước đường trường -> sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với thiên nhiên. Đây là cội nguồn tình yêu thương mênh mông Bác dành cho mọi sự sống trên đời.
Trong bài thơ: Không phải là mây trắng ngàn năm hay mây lơ lửng mà là chòm mây quen thuộc, gợi cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây. Chòm mây làm cho không gian rộng mênh mông vô tận, thời gian như ngừng trôi. Phải là người có tâm hồn ung dung thư thái mới cảm nhận được cái thong thả của chòm mây giữa bầu trời cao rộng. Chòm mây còn như mang tâm trạng: cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều, nó mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa: cách chim mải miết bay về rừng xanh, chòm mây trôi chầm chậmnhư ở lại giữa tầng không.
Trong thơ ca cổ điển: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Thôi Hiệu); “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Nguyễn Khuyến”
Cô vân mạn mạn độ thiên không
-Hình ảnh cánh chim mỏi mệt; chòm mây cô đơn, lững lờ trôi sử dụng biện pháp nhân hóa miêu tả sinh động hình ảnh cách chim mỏi mệt, chòm mây cô đơn và là hình ảnh ẩn dụ chỉ người tù cách mạng mỏi mệt, cô đơn lẻ loi sau một ngày vất vả lê bước trên đường trường.
-Tương phản: tìm về (của cánh chim) >< trôi đi (của chòm mây); rừng (có đích, nơi chốn cố định) >< tầng không (không có đích, gợi sự vô định, không biết đi đâu về đâu).
Hai câu thơ đầu của Bác gợi nhớ tới câu thơ trong bài Độc tọa Kính Đình sơn của Lý Bạch: “Chúng điểu cao phi tận/ Cô vân độc khứ nhàn”. Nếu “cánh chim” của Lý Bạch mất hút vào cõi vô tận thì “cánh chim” trong thơ Bác là cánh chim của hiện thực, vận động theo quy luật bình ổn của cuộc sống. Nếu “mây” trong thơ của Lý Bạch là chòm mây thơ thẩn, gợi cảm giác thoát tục, thì trong thơ của Bác, nó lại gợi lên vẻ yên ả, thanh bình của cuộc sống đời thường.
Cảnh vật đẹp nhưng buồn vì người buồn. Cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc trội chậm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, không biết bao giờ nhà thơ mới được như cách chim và chòm mây trên bầu trời kia. Tuy vậy hai câu thơ cổ điển đã thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ CM, ý chí nghị lực, phong thái ung dung tự tại, tự do về tinh thần.
BÚT PHÁP TẢ CẢNH NGỤ TÌNH
Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
TÌM HIỂU VĂN BẢN
Bức tranh thiên nhiên (2 câu đầu)
 -Quyển điểu quy …
-Cô vân mạn mạn…
-> hình ảnh ước lệ, bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình, ẩn dụ, nhân hóa, tương phản
=>Bức tranh lúc chiều tà vùng sơn cước buồn, yên ả, thanh bình.
Tâm trạng buồn cô đơn, vẻ đẹp tâm hồn Bác (yêu thiên nhiên, khao khát tự do, ước mong sum họp và tinh thần lạc quan, phong thái ung dung tự tại của Bác)
2. Bức tranh sinh hoạt của con người (2 câu cuối)
 
THẢO LUẬN NHÓM
NHÓM 4
Tìm hiểu 2 câu thơ cuối.
2. Bức tranh sinh hoạt của con người
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Nổi bật lên trung tâm của bức tranh thiên nhiên là hình ảnh “cô gái xóm núi xay ngô tối”. Cô gái toát lên vẻ đẹp trẻ trung, khỏe mạnh, sống động. Đó chính là hình ảnh của cuộc sống lao động bình dị đáng quý giữa núi rừng chiều tối âm u, heo hút. Nó đem lại cho người đi đường chút hơ ấm của sự sống, niềm vui hạnh phúc trong lao động của con người tuy vất vả mà tự do.
-> Điệp ngữ vòng
Tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như diễn tả cái vòng quay chăm chỉ không dứt của động tác xay ngô.
Cô gái thật chăm chỉ, kiên nhẫn, cần mẫn với công việc của mình.
Sự vận động của thời gian từ chiều đến tối
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Cảnh trời mây
cô gái xay ngô
Lò than rực hồng


Không gian thu hẹp dần
Thời gian vận động chiều sang tối


Đến 2 câu thơ cuối, không gian mở rộng ban đầu ngày càng được thu nhỏ lại đồng thời xác định rõ hơn sự vận động về thời gian: “thời gian trôi dần theo cánh chim và làn mây, theo vòng xoay của cối xay ngô, quay quay mãi …và đến khi cối xay dừng lại thì lò dĩ hồng, lò rực hồng, tức trời tối, trời tối thì lò rực lên” . Bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên tức là buổi chiều êm ả đã kết thúc, bước sang đêm tối nhưng không lạnh lẽo mà ấm áp, bừng sáng làm tăng niềm vui, sức mạnh cho người đi đường.
“Với một chữ hồng, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối…Với một chữ hồng đó, có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu…Đó là màu đỏ của tình cảm Bác”
( Hoàng Trung Thông)

-Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
-Bao túc ma hoàn, lò dĩ hồng
-> bút pháp cổ điển (lấy ánh sáng tả bóng tối), điệp ngữ vòng, nhãn tự “hồng”, hình tượng thơ vận động theo không gian, thời gian và tâm trạng (từ rộng –> hẹp, từ sáng -> tối, buồn -> vui)
=> bức tranh sinh động về cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động và sự quan tâm, lòng nhân đạo, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác.
Tiết 86:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
TÌM HIỂU VĂN BẢN
2. Bức tranh sinh hoạt của con người (2 câu cuối)
- Nghiêng về cảm hứng thiên nhiên, không gian rộng lớn
- Không miêu tả cụ thể mà chỉ gợi
- Khai thác thi đề phổ biến
- Mượn cảnh để tả tình
Có sự vận động của cảnh
- Nhân vật trữ tình là chủ thể trong bức tranh phong cảnh
- Sự vận động hướng về sự sống
Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ

Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG
TÌM HIỂU VĂN BẢN
TỔNG KẾT (ghi nhớ/ sgk)
2. Nội dung
Tấm lòng nhân đạo bao cũng như tâm hồn luôn hướng tới ánh sáng, sự sống và tương lai của Bác.
Ngời sáng vẻ đẹp con người nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.
Thắp sáng lên trong lòng người đọc một ngọn lửa hồng ấm áp của niềm tin yêu đời.
1. Nghệ thuật
Bài thơ có vẻ đẹp giản dị mà tài hoa.
Ngôn ngữ hàm súc, hình tượng thơ luôn vận động,
bút pháp gợi tả vừa chân thực, vừa cổ điển, vừa hiện đại.
TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
III. TỔNG KẾT
- Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại.
- Hồn thơ bay bổng dạt dào cảm xúc.
2. Nội dung
- Tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, ý chí kiên cường vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt, luôn ung dung và lạc quan trong mọi cảnh ngộ của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh.
Tiết 87:
Văn bản: (Mộ - Hồ Chí Minh)
CHIỀU TỐI
 
Gửi ý kiến

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE PHAN THỊ THU HƯỜNG - TRƯỜNG THCS NGÔ VĂN SỞ - QUY NHƠN - BÌNH ĐỊNH .

TRỞ VỀ ĐẦU TRANG ( NHẤP CHUỘT VÀO ĐẦU CÚN CON)